• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thành tựu tăng trưởng GDP 6 tháng và những vấn đề cần lưu ý

GDP 6 tháng đầu năm 2026 đạt mức cao nhất hơn hai thập kỷ, nhưng nền kinh tế vẫn cần kiểm soát nhập siêu, tín dụng và chất lượng tăng trưởng.

Ngày 9/7, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển” với sự tham gia của nhiều chuyên gia kinh tế, nhà khoa học và đại diện cơ quan quản lý.

GDP tăng mạnh nhờ dịch vụ và chế biến, chế tạo

Tại hội thảo, TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho biết tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18%, mức cao nhất kể từ khi Việt Nam công bố số liệu tăng trưởng 6 tháng vào năm 2000. Đây là kết quả hết sức đáng khích lệ, phản ánh sức chống chịu cũng như khả năng thích ứng của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh môi trường quốc tế còn nhiều biến động.

TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Phương Nam

TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Phương Nam

Theo ông Chúc, động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ khu vực dịch vụ và công nghiệp chế biến, chế tạo. Thương mại quốc tế tiếp tục đóng vai trò đặc biệt quan trọng khi tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu quý II tăng 22,7% và chỉ số PMI duy trì trên ngưỡng 50 điểm trong 12 tháng liên tiếp. “Đây là những tín hiệu tích cực cho thấy sản xuất và xuất khẩu chưa hề suy giảm”, ông Chúc nhấn mạnh.

Dù vậy, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng nền kinh tế đang đối mặt với năm vấn đề lớn cần được nhận diện và xử lý. Thứ nhất, nhập siêu gây áp lực lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam nhập siêu hơn 16 tỷ USD, mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Mặc dù hơn 94% giá trị nhập khẩu là tư liệu sản xuất phục vụ mở rộng sản xuất và các đơn hàng xuất khẩu, nhập siêu vẫn tạo áp lực lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Đáng chú ý, khu vực FDI hiện chiếm gần 80% giá trị xuất khẩu, trong khi tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu còn thấp. Đây là vấn đề cần được cải thiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị xuất khẩu.

Thứ hai, về cân đối tiền tệ và tín dụng. Để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số, hệ thống ngân hàng đang gánh vai trò cung ứng vốn chủ lực với tỷ lệ tín dụng trên GDP lên tới 115%, vượt ngưỡng an toàn khuyến nghị. Trong khi các kênh vốn dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp còn rất yếu, việc dồn toàn bộ rủi ro kỳ hạn và rủi ro hệ thống lên các ngân hàng thương mại là vấn đề rất lớn cần giải quyết. “Vấn đề đặt ra không chỉ là huy động đủ vốn cho tăng trưởng mà còn phải lựa chọn kênh huy động phù hợp để không dồn toàn bộ rủi ro vào hệ thống ngân hàng thương mại”, TS. Nguyễn Đình Chúc nhấn mạnh.

Thứ ba, về thu chi ngân sách và đầu tư công. Điểm sáng là nợ công hiện ở mức thấp, khoảng hơn 30% GDP, tạo dư địa tài khóa lớn cho giai đoạn tới. Tuy nhiên, quy mô ngân sách trên GDP lại thấp hơn mức chung của khu vực, trong khi các nguồn thu truyền thống từ đất đai, tài nguyên đang giảm dần và khó dự đoán. Thách thức đặt ra là làm sao mở được dư địa tài khóa cho các dự án hạ tầng chiến lược mà vẫn giữ được lộ trình phát triển bền vững.

Thứ tư, về cân đối tiết kiệm và đầu tư. Hiện có sự chênh lệch lớn khi khu vực FDI tạo ra thặng dư, nhưng khu vực kinh tế trong nước vẫn luôn trong trạng thái thiếu hụt vốn, khiến lãi suất khó giảm sâu. Chúng ta cần những đột phá về thể chế để khơi thông thị trường tài sản và nâng cao năng lực tự chủ nguồn lực trong nước.

Thứ năm, về sức khỏe khu vực doanh nghiệp. Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhưng lại đang chịu tác động từ áp lực chi phí vốn, tỷ giá và các rào cản chính sách. Việc giữ chân các tập đoàn lớn song song với việc tạo dư địa thực chất cho doanh nghiệp nội địa phát triển là bài toán cần đặt ra nghiêm túc.

Không đánh đổi ổn định dài hạn lấy tăng trưởng ngắn hạn

TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nhận định, năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi là năm đầu tiên triển khai các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trong bối cảnh thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp với cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn về thương mại, công nghệ, tài chính và năng lượng; xung đột khu vực tại Trung Đông và Trung Âu vẫn kéo dài, tạo ra nhiều rủi ro đối với thương mại, đầu tư và logistics toàn cầu.

TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Ảnh: Phương Nam

TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Ảnh: Phương Nam

Theo số liệu vừa công bố, GDP quý II/2026 ước tăng 8,39%, đưa mức tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm lên 8,18%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng gần 10%, dịch vụ tăng trên 8%; tiêu dùng cuối cùng tăng trên 8%, tích lũy tài sản tăng 15,2%, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng trên 20%. Tuy nhiên, ông Thanh cũng lưu ý lạm phát đang tạo sức ép lớn khi CPI bình quân 6 tháng tăng 4,38%, tiệm cận mục tiêu 4,5% của cả năm; lạm phát cơ bản tăng 4,12%. 

Bên cạnh đó, cán cân thương mại hàng hóa liên tục nhập siêu trong 6 tháng qua, phản ánh nhu cầu nhập khẩu đầu vào cho sản xuất rất lớn, đồng thời đặt ra vấn đề về sức ép tỷ giá và sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu, máy móc, linh kiện nước ngoài. Hệ thống tài chính ngân hàng cũng đứng trước yêu cầu phải đảm bảo đồng thời nhiều mục tiêu: vừa cung ứng vốn cho tăng trưởng kinh tế, vừa phải kiểm soát chi phí vốn, thanh khoản, chất lượng tín dụng, nợ xấu và an toàn hệ thống.

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Phương Nam

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Phương Nam

Tại hội thảo, các chuyên gia tập trung thảo luận bốn nhóm vấn đề trọng tâm: làm rõ thực chất của tăng trưởng 6 tháng đầu năm; phân tích rủi ro về lạm phát, tỷ giá, nhập siêu và nợ xấu; đánh giá sức khỏe doanh nghiệp; đồng thời đề xuất giải pháp điều hành cho nửa cuối năm 2026. “Mục tiêu là duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhưng vẫn bảo đảm tính bền vững của các cân đối vĩ mô, tránh đánh đổi ổn định dài hạn lấy tăng trưởng ngắn hạn”, ông Thanh khẳng định.

Các chuyên gia cho rằng mục tiêu Chính phủ đặt ra cho năm 2026 là tăng trưởng trên 10%, xuất nhập khẩu tăng 15 - 16% và CPI ở mức 4 - 4,5% là tham vọng nhưng khả thi nếu giải quyết đồng bộ các áp lực về nhập siêu, tín dụng, ngân sách, tiết kiệm - đầu tư và sức khỏe doanh nghiệp. Các kiến nghị từ hội thảo được kỳ vọng sẽ góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, củng cố niềm tin thị trường, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

Các chuyên gia cũng khuyến nghị nếu muốn duy trì đà tăng trưởng trên 10% trong năm nay, Việt Nam phải kiểm soát tốt nhập siêu, tín dụng, lạm phát và nâng cao sức khỏe doanh nghiệp.

Nguyễn Hạnh
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy