• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển hạ tầng LNG: Đồng bộ chuỗi cung ứng với nhu cầu

Việt Nam xác định phát triển đồng bộ hạ tầng LNG, gắn kết kho cảng, đường ống, nhà máy điện và thị trường tiêu thụ nhằm bảo đảm an ninh năng lượng.

Sáng 5/11 tại Hà Nội, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt nam và Tập đoàn Excelerate Energy phối hợp tổ chức Hội thảo “Phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách”.

Hội thảo với sự tham gia của đại diện của lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp năng lượng, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia trong nước, quốc tế.

Toàn cảnh hội thảo.

Toàn cảnh hội thảo.

Gỡ điểm nghẽn đầu tư trong chuỗi khí - điện LNG

Thời gian qua, công tác triển khai các mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia theo Nghị quyết số 70-NQ/TW cho thấy phát triển đồng bộ hạ tầng LNG là một định hướng quan trọng nhằm đa dạng hóa nguồn cung, đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam. Năm 2026, nhu cầu LNG trong nước gia tăng trong bối cảnh thị trường toàn cầu chịu cú sốc lớn khi xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn eo biển Hormuz - tuyến hàng hải vận chuyển khoảng 1/5 nguồn cung LNG toàn cầu.

Hiện, Việt Nam đã hình thành khuôn khổ chính sách và quy hoạch tương đối đồng bộ cho phát triển ngành khí LNG bao gồm Nghị quyết số 70-NQ/TW, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh với nguồn điện LNG khoảng 22.524 MW đến năm 2030, quy hoạch hệ thống kho LNG công suất tới 20 triệu tấn/năm vào năm 2030 cùng 7 dự án kho LNG và 7 dự án chuỗi khí - điện được đưa vào danh mục công trình quan trọng quốc gia.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Văn Phương - Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết: Thời gian qua, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong phát triển chuỗi LNG. Kho cảng LNG Thị Vải và các nhà máy điện Nhơn Trạch 3, Nhơn Trạch 4 đi vào vận hành đã tạo cơ sở thực tiễn cho phát triển LNG. Nhiều tập đoàn năng lượng trong và ngoài nước đang xúc tiến đầu tư kho cảng, nguồn điện và thu xếp nguồn cung khí dài hạn. Tuy nhiên, so với yêu cầu của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đây mới là bước khởi đầu, nhiều dự án còn chậm triển khai.

Theo ông Nguyễn Văn Phương, thực tiễn vừa qua trong phát triển hạ tầng LNG đã đặt ra ba thách thức lớn: Một là, xác định quy mô phát triển trước biến động của thị trường và yêu cầu chuyển dịch năng lượng. Hai là, bảo đảm sự đồng bộ của toàn chuỗi theo hướng kho cảng, đường ống, nhà máy điện, lưới truyền tải và thị trường tiêu thụ phải gắn kết chặt chẽ về kỹ thuật, thương mại và tài chính, đồng thời bảo đảm đồng bộ về tiến độ. Ba là, huy động vốn và phân bổ rủi ro, cụ thể, các dự án có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, đòi hỏi cơ chế, chính sách ổn định và có thể dự báo.

Ông Nguyễn Văn Phương - Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

Ông Nguyễn Văn Phương - Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

Vì vậy, theo đại diện Ban Chiến lược, chính sách Trung ương yêu cầu xuyên suốt là chuyển từ cách tiếp cận từng dự án riêng lẻ sang phát triển đồng bộ, hiệu quả cả chuỗi hạ tầng LNG. Cần lựa chọn mô hình phù hợp, xây dựng khung thể chế minh bạch, ổn định và bảo đảm nguyên tắc lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người sử dụng năng lượng.

Phát biểu tại hội thảo, bà Jennifer Wicks - Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đánh giá Việt Nam đã có những bước đi ý nghĩa thông qua Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia (Quy hoạch Điện VIII) và các cập nhật quy định pháp lý đang được triển khai. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các kế hoạch này đòi hỏi phải giải quyết một số thách thức mà các nhà đầu tư, bên cho vay và nhà phát triển dự án đang gặp phải.

Bà Jennifer Wicks - Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Bà Jennifer Wicks - Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Năm trọng tâm phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn khẳng định: Bảo đảm cung ứng đủ năng lượng với chi phí hợp lý là yêu cầu quan trọng đối với phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trước những biến động của thị trường năng lượng thế giới, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn cung, phát triển đồng bộ hạ tầng và nâng cao khả năng ứng phó với rủi ro nguồn cung.

Đối với Việt Nam, phát triển LNG cần được đặt trong tổng thể cân đối năng lượng quốc gia, gắn với việc khai thác hiệu quả nguồn khí trong nước và đáp ứng nhu cầu của hệ thống điện và các ngành công nghiệp. “Thời gian qua, Việt Nam đã từng bước hình thành hệ thống hạ tầng khí từ thu gom, xử lý, vận chuyển đến phân phối. Các kho cảng LNG Thị Vải và Cái Mép đi vào hoạt động đã mở ra khả năng bổ sung nguồn khí nhập khẩu phục vụ phát điện và sản xuất công nghiệp”, Thứ trưởng Nguyễn Việt Sơn nhấn mạnh.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn.

Tuy nhiên, thị trường LNG Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu phát triển, nguồn khí khai thác từ nhiều mỏ hiện hữu trong nước có xu hướng suy giảm, trong khi việc phát triển các nguồn khí mới cần thời gian và nguồn lực lớn. Bên cạnh đó, các dự án LNG đòi hỏi vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn dài. Hiệu quả đầu tư phụ thuộc vào việc đồng bộ tiến độ giữa kho cảng, đường ống và các hộ tiêu thụ, nhất là các nhà máy điện.

Từ thực tế đó, Thứ trưởng Nguyễn Việt Sơn đề xuất 5 vấn đề cần tập trung trong phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam.

Thứ nhất, phát triển hạ tầng LNG phải gắn với quy hoạch và nhu cầu tiêu thụ thực tế. Cần xác định quy mô, địa điểm và phân kỳ đầu tư phù hợp với tiến độ các nhà máy điện và nhu cầu công nghiệp tại từng khu vực. Cần phối hợp sử dụng hiệu quả nguồn khí trong nước và LNG nhập khẩu, tận dụng hạ tầng hiện có, hạn chế đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ.

Thứ hai, thúc đẩy sử dụng chung hạ tầng và phát triển các trung tâm LNG phù hợp. Mô hình trung tâm LNG phục vụ nhiều hộ tiêu thụ có thể tận dụng lợi thế quy mô, giảm đầu tư trùng lặp và tiết kiệm chi phí. Việc lựa chọn mô hình cần dựa trên khả năng kết nối, nhu cầu thị trường và hiệu quả tổng thể. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiếp cận hạ tầng của bên thứ ba, phân bổ công suất và xác định giá dịch vụ minh bạch, bảo đảm an toàn vận hành, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Thứ ba, tăng cường đồng bộ giữa thị trường khí và thị trường điện. Các hợp đồng cung cấp LNG, dịch vụ hạ tầng và mua bán điện cần phù hợp với nhau về khối lượng, thời hạn và tiến độ. Cần có cơ chế phân bổ hợp lý các rủi ro liên quan đến giá nhiên liệu, tỷ giá, nghĩa vụ bao tiêu và huy động điện. Cơ chế này cần tạo điều kiện thu xếp vốn cho các dự án, đồng thời kiểm soát tác động đến chi phí cung ứng điện và khả năng chi trả của nền kinh tế.

Thứ tư, đa dạng hóa nguồn cung và nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Cần kết hợp phù hợp giữa hợp đồng dài hạn và mua giao ngay. Việc lựa chọn đối tác và điều kiện thương mại cần dựa trên tổng chi phí, độ tin cậy và tính linh hoạt của nguồn cung. Có thể nghiên cứu các hình thức hợp tác để tập hợp nhu cầu và mua chung LNG trên cơ sở tự nguyện, minh bạch và phù hợp với pháp luật. Cùng với đó, cần tăng cường dự báo và xây dựng phương án ứng phó khi nguồn cung thiếu hụt.

Thứ năm, mở rộng hợp tác quốc tế về đầu tư, công nghệ và tài chính. Việt Nam mong muốn tăng cường hợp tác với các đối tác, trong đó có các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp Hoa Kỳ, để phát triển chuỗi cung ứng LNG hiệu quả, an toàn, tiếp cận các giải pháp công nghệ phù hợp và kiểm soát phát thải. Hợp tác cũng nhằm nâng cao năng lực đàm phán, quản trị và vận hành của doanh nghiệp Việt Nam.

"Hiện Bộ Công Thương đang tích cực hoàn thiện thể chế để thúc đẩy phát triển lĩnh vực LNG. Cụ thể, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI dự kiến thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Đồng thời, Bộ Công Thương đang tích cực hoàn thiện việc cập nhật Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, dự kiến hoàn thành trong tháng 11/2026, tạo cơ sở thuận lợi hơn cho phát triển LNG tại Việt Nam", Thứ trưởng Nguyễn Việt Sơn cho biết thêm.

Tại hội thảo, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và các chuyên gia trong nước, quốc tế đã tập trung thảo luận vai trò của quy mô LNG trong cơ cấu năng lượng quốc gia; kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức và đầu tư hạ tầng ( trung tâm phân phối LNG, hạ tầng dùng chung, kho nổi tái hóa khí FSRU; và những giải pháp hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực cho toàn chuỗi.

Kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ tại Hội thảo đã gợi mở nhiều hàm ý chính sách cho Việt Nam về mô hình đầu tư, phương án tài chính cũng như kinh nghiệm triển khai kho cảng LNG trung tâm (LNG hub) và kho nổi tái hóa khí (FSRU). Thực tiễn vận hành FSSRU tại nhiều thị trường trên thế giới như Bangladesh, Pakistan, Argentine, Braxin, Kuwai và UAE cho thấy hiệu quả linh hoạt trong giai đoạn đầu phát triển thị trường, đồng thời mở ra định hướng phát triển Việt Nam trở thành trung tâm phân phối LNG của khu vực ASEAN.

Thu Hường - Diệu Linh

Tin liên quan

Đối tác tin cậy