• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Hiến kế thúc đẩy phát triển điện khí LNG để bảo đảm an ninh năng lượng

Hội thảo “Phát triển điện khí LNG: Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số” ghi nhận nhiều ý kiến kiến nghị để thúc đẩy phát triển nguồn điện này.

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương: Phát triển điện khí LNG là câu chuyện về năng lượng bảo đảm nền tảng năng lượng cho tăng trưởng nhanh

Chủ đề “Phát triển điện khí LNG: Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số” không chỉ đặt ra câu chuyện của riêng ngành điện, của riêng các dự án LNG, mà rộng hơn là câu chuyện về năng lực bảo đảm nền tảng năng lượng cho một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, quy mô ngày càng lớn và mức độ điện hóa ngày càng cao.

Trong bối cảnh nhu cầu điện năng tiếp tục tăng cao, yêu cầu về độ tin cậy, ổn định và linh hoạt của hệ thống điện ngày càng lớn, thì nguồn điện khí LNG được xác định là nguồn điện chuyển tiếp chiến lược trong giai đoạn tới, có vai trò quan trọng trong việc: Bảo đảm cân đối cung – cầu điện năng; Hỗ trợ tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn; Nâng cao độ ổn định, an toàn của hệ thống điện quốc gia; Thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.

Công nghệ điện khí LNG hiện nay về cơ bản đã tương đối hoàn thiện và có nhiều lựa chọn trên thị trường quốc tế. Vấn đề khó hơn nằm ở cấu trúc kinh tế của dự án. LNG là nhiên liệu nhập khẩu. Giá LNG chịu ảnh hưởng của thị trường quốc tế, chi phí vận chuyển, tỷ giá và các yếu tố địa chính trị. Trong khi đó, dự án điện khí lại là dự án có vốn đầu tư rất lớn, vòng đời dài và cần có khả năng huy động vốn dài hạn.

Từ thực tiễn triển khai, Cục Điện lực cho rằng có ít nhất năm nhóm vấn đề cần được quan tâm trong phát triển nhiệt điện LNG.

Một là, cơ chế hợp đồng và huy động điện phải tạo được sự ổn định cần thiết.

Hai là, phải đồng bộ hạ tầng LNG. Cần nghiên cứu các mô hình hạ tầng dùng chung, đặc biệt là cảng, kho LNG, hệ thống tái hóa và đường ống. Hạn chế để tình trạng mỗi dự án điện phải xây dựng một hệ thống LNG riêng biệt nếu điều kiện kỹ thuật và kinh tế cho phép dùng chung.

Ba là, phải phát triển đồng bộ với hạ tầng lưới điện.

Bốn là, phải nâng cao trách nhiệm của các nhà đầu tư.

Năm là, phát triển LNG không đồng nghĩa với việc trì hoãn chuyển dịch năng lượng.

Để tạo thuận lợi cho phát triển các dự án điện LNG theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, Bộ Công Thương đã đề xuất để sửa đổi Luật Điện lực, các quy định pháp luật liên quan, ban hành các cơ chế chính sách cho phát triển điện LNG. Hiện nay, Luật Điện lực sửa đổi, các nghị định, thông tư hướng dẫn đã được ban hành để tháo gỡ khó khăn cho nhà máy đầu tư điện khí LNG trên nguyên tắc hài hòa lợi ích và rủi ro chia sẻ giữa nhà nước, người dân và nhà đầu tư.

Tuy nhiên để có thể hoàn thành xây dựng, đưa các dự án điện LNG trong quy hoạch vào vận hành, cần thiết phải có sự nỗ lực của các chủ đầu tư trong triển khai dự án, cũng như việc đôn đốc, giám sát thực hiện đầu tư dự án của các cấp thẩm quyền, sở ban ngành địa phương nơi có dự án.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã xác định phát triển 22.524 MW nguồn điện LNG đến năm 2030, do đó để triển khai thực hiện quy hoạch cần tập trung vào một số nhóm nhiệm vụ:

Thứ nhất, rà soát toàn bộ danh mục dự án LNG trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, phân loại theo mức độ sẵn sàng về đầu tư, đất đai, hạ tầng LNG, nguồn khí, thu xếp vốn và đấu nối. Xác định rõ nhóm dự án ưu tiên, có khả năng hoàn thành sớm để tập trung tháo gỡ vướng mắc, sớm hoàn thành để đưa vào vận hành, tránh dàn trải nguồn lực.

Thứ hai, xây dựng đồng bộ hạ tầng nhập khẩu LNG với các dự án điện; nghiên cứu các trung tâm khí – điện LNG có hạ tầng dùng chung.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ chế giá điện và PPA theo tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư, doanh nghiệp điện lực và người sử dụng điện.

Thứ tư, tăng cường phối hợp giữa Bộ Công Thương, các địa phương, EVN, Petrovietnam, doanh nghiệp khí và các nhà đầu tư để giải quyết đồng bộ các vấn đề về nguồn khí, LNG, nhà máy điện và lưới điện.

Thứ năm, xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ kéo dài; đồng thời chuẩn bị phương án thay thế hoặc bổ sung nguồn điện khi cần thiết để bảo đảm cân đối cung - cầu hệ thống.

Từ góc độ cơ quan quản lý nhà nước về điện lực, tôi cho rằng câu hỏi đặt ra hiện nay là: “Phát triển điện khí LNG như thế nào để vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa có hiệu quả kinh tế, vừa kiểm soát rủi ro nhập khẩu nhiên liệu và phù hợp với quá trình chuyển dịch năng lượng”. Cục Điện lực xác định nhiệm vụ trong thời gian tới là tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, EVN, PVN, các doanh nghiệp khí, nhà đầu tư và các tổ chức tài chính để sớm đưa các dự án điện khí có quy hoạch vào vận hành, đóng góp hiệu quả cho bảo đảm cung ứng điện của hệ thống điện.

Cục Điện lực, Bộ Công Thương sẵn sàng đồng hành cùng các địa phương, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức tài chính để hiện thực hóa mục tiêu này, trên nguyên tắc lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ, đúng pháp luật, hiệu quả kinh tế và đặt yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia lên hàng đầu.

PGS. TS Trần Đình Thiên.

PGS. TS Trần Đình Thiên.

PGS. TS Trần Đình Thiên, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn kinh tế - Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Nguyên Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: Điện LNG được đặt trong cơ cấu nguồn như một giải pháp chiến lược để đáp ứng yêu cầu của hệ thống điện.

Bài toán năng lượng của Việt Nam đang thay đổi căn bản cả về quy mô và cơ cấu. Quy mô nhu cầu điện tăng nhanh, trong khi mục tiêu tăng trưởng GDP cao và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành công nghệ cao, tiêu thụ điện lớn đang đặt ra yêu cầu mới đối với hệ thống năng lượng. Cùng với đó, cơ cấu năng lượng chuyển mạnh sang điện sạch được xác định là yêu cầu sống còn.

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tái tạo tăng, nhu cầu về điện nền không biến mất nhưng cơ cấu thay đổi mạnh. Điện than giảm, trong khi điện LNG được xác định là giải pháp tối ưu chiến lược. Đây là những thay đổi gắn với yêu cầu vừa đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng, vừa thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng điện sạch.

Nhìn vào xu hướng đầu tư năng lượng toàn cầu, dòng vốn đang có sự dịch chuyển mạnh. Năm 2015, dầu mỏ là nguồn thu hút đầu tư lớn, trong khi đến năm 2026, năng lượng tái tạo dự kiến dẫn đầu với mức đầu tư hơn 694 tỷ USD, cùng với sự gia tăng mạnh của hạ tầng lưới điện và công nghệ lưu trữ.

Đối với Việt Nam, thách thức đặt ra là lấp đầy khoảng cách giữa cơ cấu năng lượng đang có và cơ cấu phải có. Cơ cấu hiện có vẫn nặng về các nguồn truyền thống, với điện than chiếm 46,2% sản lượng huy động, thủy điện 32,6%, năng lượng tái tạo 12,1% và tua-bin khí 6,2% vào tháng 10/2025. Việc bảo đảm nguồn điện không chỉ được nhìn ở con số công suất ghi trong quy hoạch.

Giá trị của 1 MW nằm ở lượng điện thực phát và quan trọng hơn là khả năng sẵn sàng phát đúng lúc, đúng nơi, đúng chức năng mà hệ thống cần. Công suất thiết kế, công suất khả dụng, sản lượng điện và giá trị bảo đảm cho hệ thống là bốn khái niệm khác nhau.

Trong cơ cấu đó, điện khí LNG có những giá trị cụ thể đối với hệ thống điện. LNG bổ sung nguồn công suất chắc chắn khi khí trong nước suy giảm; tua-bin khí có khả năng điều chỉnh công suất tương đối nhanh, hỗ trợ hệ thống hấp thụ nguồn điện gió và mặt trời; đồng thời LNG có vòng đời phát thải thấp hơn than, theo IEA thấp hơn khoảng 35%.

Theo Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, mục tiêu đến năm 2030 là điện thương phẩm đạt 500,4–557,8 tỷ kWh; điện sản xuất và nhập khẩu đạt 560,4–624,6 tỷ kWh; công suất cực đại đạt 89.655–99.934 MW. Tổng công suất nguồn phục vụ nhu cầu dự kiến 183.291–236.363 MW, trong đó điện LNG 22.524 MW, tương đương 9,5–12,3%. Những con số và định hướng trên cho thấy yêu cầu đối với hệ thống năng lượng đồng thời là mở rộng quy mô cung ứng và tái cấu trúc nguồn điện. Trong quá trình đó, năng lượng tái tạo tăng lên, điện nền tiếp tục có vai trò nhưng cơ cấu thay đổi mạnh, còn điện LNG được đặt trong cơ cấu nguồn như một giải pháp chiến lược để đáp ứng yêu cầu của hệ thống điện.

PGS. TS Ngô Trí Long.

PGS. TS Ngô Trí Long.

PGS. TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam: Việc hoàn thiện cơ chế tài chính và thị trường là điều kiện quan trọng để điện khí LNG huy động vốn, vận hành hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng

Hai điểm nghẽn lớn trong việc phát triển điện khí LNG là vốn và thị trường. Điện khí LNG không chỉ cần được đưa vào quy hoạch mà quan trọng hơn là phải biến quy hoạch thành những dự án có thể huy động vốn và vận hành hiệu quả.

Về vốn, các dự án LNG cần lượng vốn rất lớn, thời gian thu hồi dài, trong khi các yếu tố như giá điện, sản lượng, tỷ giá và trách nhiệm khi xảy ra biến động chưa thực sự rõ ràng. Khi dòng tiền chưa đủ rõ, ngân hàng khó cho vay và nhà đầu tư khó quyết định.

Ở phía thị trường, giá LNG nhập khẩu biến động mạnh; cách thức mua LNG và tính giá điện chưa thật rõ; việc huy động nhà máy cần minh bạch; kho cảng, đường ống phải bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng. Nếu thiếu minh bạch, chi phí cao có thể chuyển sang người sử dụng điện.

Để phát triển điện khí LNG cần đồng thời mở hai “khóa”, gồm khóa về vốn và khóa về thị trường. Trong đó, dòng tiền phải rõ ràng, hợp đồng đủ điều kiện vay vốn; đồng thời tín hiệu giá cần minh bạch, thị trường có cạnh tranh và vận hành hiệu quả.

Điện khí LNG có 3 vai trò quan trọng gồm bổ sung nguồn điện khi nhu cầu tăng nhanh và nguồn khí trong nước giảm; hỗ trợ năng lượng tái tạo nhờ khả năng điều chỉnh công suất linh hoạt cho điện gió, điện mặt trời. Đồng thời tăng an ninh năng lượng thông qua đa dạng hóa nguồn nhiên liệu, giảm phụ thuộc vào một nguồn.

Tuy nhiên, từ quy hoạch đến một nhà máy thực sự vận hành, phát điện với giá hợp lý vẫn là khoảng cách lớn. Điện khí LNG cần được nhìn nhận như một chuỗi liên hoàn, gồm kho cảng, đường ống, nhà máy điện và lưới truyền tải. Chỉ một mắt xích chậm cũng có thể khiến cả chuỗi dự án chậm theo.

Đối với Đà Nẵng và khu vực miền Trung, cần chuyển từ tư duy “một dự án LNG” sang xây dựng hạ tầng năng lượng dùng chung theo vùng, gồm kho cảng LNG, đường ống, logistics và lưới điện. Cách tiếp cận này giúp tối ưu công suất, chia sẻ chi phí và tăng cường an ninh năng lượng cho toàn vùng.

3 đề xuất để tháo gỡ các điểm nghẽn. Thứ nhất, cơ chế tài chính và thị trường phải được thiết kế đồng bộ, bảo đảm dòng tiền đủ tin cậy để huy động vốn và thị trường đủ cạnh tranh để tạo sức ép giảm chi phí.

Thứ hai, Nhà nước không bảo lãnh lợi nhuận nhưng phải bảo đảm luật chơi ổn định, minh bạch, dễ dự báo và có khả năng thực thi.

Thứ ba, rủi ro phải được phân bổ đúng chủ thể; bên nào kiểm soát được rủi ro thì bên đó chịu trách nhiệm, trong khi rủi ro về chính sách, truyền tải và hệ thống cần có cơ chế xử lý rõ ràng.

Cùng với đó là cơ chế chia sẻ rủi ro có nguyên tắc. Nhà đầu tư phải chịu rủi ro xuất phát từ yếu kém trong quản trị, còn những rủi ro khách quan cần được xử lý theo công thức chia sẻ minh bạch.

3 điều kiện để LNG góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và tăng trưởng bền vững gồm vốn, giá và kỷ luật. Cơ chế tài chính khả thi giúp huy động nguồn lực; thị trường cạnh tranh giúp giá phản ánh chi phí hợp lý; còn giám sát minh bạch giúp phân bổ rủi ro hợp lý, không đẩy gánh nặng sang Nhà nước và người tiêu dùng.

Ông Nguyễn Văn Trừ, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Đà Nẵng

Ông Nguyễn Văn Trừ, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Đà Nẵng

Ông Nguyễn Văn Trừ, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Đà Nẵng: Để giải quyết bài toán cung ứng điện và chuyển đổi xanh, dự án Nhà máy điện khí LNG Hòa Ninh là giải pháp tối ưu

Bước vào năm 2026, Đà Nẵng đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội ở mức hai con số theo Kế hoạch 2026–2030. Điều này đặt ra áp lực cực lớn lên an ninh năng lượng. Thực tế cho thấy nguồn phát điện tại chỗ của thành phố đang mất cân đối: Tháng 5/2026, sản lượng điện sản xuất chỉ đạt khoảng 344 triệu kWh, trong khi tiêu thụ lên tới 683 triệu kWh (chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu). Tốc độ tăng trưởng phụ tải duy trì trên 13%/năm; dự báo cả năm 2026, công suất cực đại sẽ đạt 1.456 MW và điện thương phẩm đạt 7.550 triệu kWh. Nếu không có nguồn điện nền tại chỗ quy mô lớn, nguy cơ thiếu hụt công suất là rất rõ ràng.

Yêu cầu về nguồn điện nền chất lượng cao càng gia tăng khi thành phố vừa khởi công Khu công nghiệp sinh thái Hòa Ninh (29/07/2026) với quy mô hơn 400 ha, tổng vốn 6.204 tỷ đồng. KCN này tập trung thu hút các ngành công nghệ cao, bán dẫn và trung tâm dữ liệu — những lĩnh vực đòi hỏi nguồn điện liên tục, ổn định tuyệt đối và đáp ứng tiêu chuẩn xanh.

Để giải quyết bài toán cung ứng điện và chuyển đổi xanh, dự án Nhà máy điện khí LNG Hòa Ninh (Giai đoạn 1: công suất 1.500 MW, vốn đầu tư 1,59 tỷ USD) là giải pháp tối ưu. Đây là nguồn điện nền sạch, giảm phát thải CO2, phục vụ lộ trình Net Zero 2050. Dự án gắn liền với hạ tầng dùng chung gồm Cảng lỏng/khí và Kho LNG Liên Chiểu. Nhằm bảo đảm nhiên liệu cho nhà máy điện và các ngành công nghiệp, Đà Nẵng đề xuất nâng công suất Kho LNG Liên Chiểu lên 1–2 triệu tấn/năm (giai đoạn 2026–2030) và 3–5 triệu tấn/năm (sau 2030), đồng thời quy hoạch tuyến đường ống dẫn khí Liên Chiểu – Hòa Ninh.

Về chính sách, Luật Điện lực 2024 và Nghị định 100/2025/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi với cơ chế cam kết sản lượng điện hợp đồng tối thiểu (Qc) không thấp hơn 65% trong tối đa 10 năm. Nhằm đẩy nhanh tiến độ, Sở Công Thương Đà Nẵng kiến nghị Trung ương: Chuyển Dự án LNG Hòa Ninh giai đoạn 1 từ danh mục dự phòng sang danh mục chính thức triển khai; Điều chỉnh nâng công suất Kho LNG Liên Chiểu và bổ sung quy hoạch đường ống dẫn khí; Hướng dẫn nhanh các thủ tục chấp thuận nhà đầu tư các công trình lưới điện truyền tải 220kV/500kV đồng bộ.

Đà Nẵng cam kết đồng hành cùng nhà đầu tư trong giải phóng mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật để sớm đưa dự án vào vận hành, tạo động lực phát triển bền vững.

Ông Phạm Văn Cường, Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai

Ông Phạm Văn Cường, Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai

Ông Phạm Văn Cường, Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai: Việc chuẩn bị đồng bộ giữa nguồn điện, lưới truyền tải, đất đai và quy hoạch có ý nghĩa sống còn đối với các đại dự án năng lượng

Cụm Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 (tổng công suất 1.624 MW, tổng vốn khoảng 1,4 tỷ USD do PV Power làm chủ đầu tư) là chuỗi dự án năng lượng trọng điểm quốc gia, đã chính thức vận hành thương mại lần lượt vào tháng 11 và 12/2025. Đây là cụm nhà máy điện khí LNG đầu tiên tại Việt Nam sử dụng 100% nhiên liệu LNG nhập khẩu, ứng dụng công nghệ tuabin khí tiên tiến GE 9HA.02 đạt hiệu suất phát điện trên 62%, giúp tối ưu hóa chi phí nhiên liệu và giảm thiểu phát thải CO2. Khi vận hành ổn định, dự án dự kiến cung cấp khoảng 9 tỷ kWh/năm, mang lại doanh thu khoảng 27.000 tỷ đồng/năm và đóng góp cho ngân sách địa phương khoảng 1.000 tỷ đồng/năm.

Ngay trong 6 tháng đầu năm 2026, cụm nhà máy đã sản xuất khoảng 2,5 tỷ kWh, đạt giá trị sản xuất khoảng 9.063 tỷ đồng. Sự góp mặt của dự án thúc đẩy ngành sản xuất và phân phối điện tại Đồng Nai tăng trưởng đột phá ~30% so với cùng kỳ. Nguồn cung điện nền sạch, quy mô lớn và độ tin cậy cao này là “bệ đỡ” hạ tầng chiến lược để tỉnh thu hút các dòng vốn công nghệ cao, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu tiêu thụ điện năng lớn (như Khu công nghệ số Long Thành ~500 MW, KCN Bàu Cạn - Tân Hiệp nhu cầu đến năm 2030 là 1.298,5 MW).

Trong quá trình triển khai, UBND thành phố Đồng Nai đã tích cực tháo gỡ các nút thắt về bồi thường giải phóng mặt bằng, điều chỉnh quy hoạch và chủ trương đầu tư. Thách thức lớn nhất tập trung ở các công trình đường dây truyền tải 500 kV, 220 kV đấu nối giải tỏa công suất do sự lệch pha giữa quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và hướng tuyến thực tế. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và bất đồng về đơn giá bồi thường cũng gây ảnh hưởng đến tiến độ. Thực tiễn khẳng định: Việc chuẩn bị đồng bộ giữa nguồn điện, lưới truyền tải, đất đai và quy hoạch có ý nghĩa sống còn đối với các đại dự án năng lượng.

Thời gian tới, Sở Công Thương thành phố Đồng Nai sẽ tập trung vào 5 nhiệm vụ:

Một là, tiếp tục bảo đảm vận hành an toàn, ổn định và hiệu quả hai nhà máy nêu trên, bảo đảm khai thác tối ưu nguồn điện LNG, góp phần nâng cao độ tin cậy cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia.

Hai là, đẩy nhanh tiến độ các công trình lưới điện truyền tải đấu nối, nhất là các đường dây 220 kV, 500 kV liên quan đến giải tỏa công suất, bảo đảm đồng bộ giữa nguồn điện và lưới điện.

Ba là, tăng cường phối hợp giữa Sở Công Thương, các sở, ngành, địa phương, chủ đầu tư và các đơn vị điện lực trong theo dõi tình hình vận hành, sản lượng điện, khả năng cung ứng và những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của nhà máy.

Bốn là, gắn phát triển nguồn điện với định hướng phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư, đặc biệt là các ngành công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và các ngành có nhu cầu sử dụng điện lớn.

Năm là, hiện nay, Trung tâm điện lực Nhơn Trạch gồm 04 nhà máy điện với tổng công suất 2.824MW. Đề nghị Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò của các dự án điện khí LNG; tiếp tục nghiên cứu triển khai dự án Nhà máy điện linh hoạt Nhơn Trạch tổng công suất 600MW sau khi được bổ sung vào Quy hoạch điện VIII điều chỉnh.

Ông Lê Bá Quý, Giám đốc Chi nhánh Tổng Công Ty Điện lực Dầu Khí Việt Nam- Ban quản lý dự án Điện

Ông Lê Bá Quý, Giám đốc Chi nhánh Tổng Công Ty Điện lực Dầu Khí Việt Nam- Ban quản lý dự án Điện

Ông Lê Bá Quý, Giám đốc Chi nhánh Tổng Công Ty Điện lực Dầu Khí Việt Nam- Ban quản lý dự án Điện: Kinh nghiệm từ Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3,4 là nền tảng để Hòa Ninh triển khai nhanh

Từ thực tiễn hơn 5 năm triển khai Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3&4 đã rút ra nhiều bài học quan trọng, làm nền tảng để triển khai nhanh và hiệu quả hơn cho Dự án Nhà máy điện khí LNG Hòa Ninh tại Đà Nẵng.

Về công nghệ, ngay từ khâu lập báo cáo nghiên cứu khả thi, đơn vị đã hợp tác với tư vấn độc lập hàng đầu Thụy Sĩ là SS&A để quyết định lựa chọn cấu hình đơn trục (1-1-1) thay vì cấu hình đa trục (2-2-1) truyền thống, đồng thời áp dụng công nghệ tua-bin khí thế hệ 9HA.02, đạt hiệu suất chu trình hỗn hợp trên 63%, tốc độ khởi động dưới 30 phút và tốc độ thay đổi tải lên tới 88 MW/phút.

Điều này giúp nhà máy tiết kiệm được 1/3 diện tích chiếm đất và sẵn sàng cho phép đốt kèm hydro với tỷ lệ lên tới 20%, là bước đệm công nghệ cho lộ trình chuyển dịch xanh sau này.

Về vốn, Nhơn Trạch 3&4 là dự án nguồn điện quy mô tỷ USD đầu tiên tại Việt Nam không có bảo lãnh Chính phủ hay bảo lãnh của Petrovietnam. PV Power đã huy động thành công gói tài chính hỗn hợp gồm khoản vay 200 triệu USD từ Ngân hàng SMBC do Tổ chức SACE của Ý bảo lãnh, khoản vay thương mại trong nước 4.000 tỷ đồng từ Vietcombank, gói tín dụng bắc cầu ngắn hạn 300 triệu USD từ Citibank và ING Bank, cùng hợp đồng vay ECA trị giá 521,5 triệu USD được bảo hiểm bởi SERV (Thụy Sĩ) và K-Sure (Hàn Quốc).

Nếu các dự án tiếp theo áp dụng mô hình tài trợ dự án, các chủ đầu tư sẽ gặp thách thức rất lớn nếu không có các điều kiện hợp đồng mua bán điện dài hạn đủ hấp dẫn.

Từ bài học về hai điểm nghẽn hạ tầng lớn nhất tại Nhơn Trạch: lưới truyền tải chậm tiến độ so với nhà máy và chậm trễ đàm phán mặt bằng dùng chung với khu công nghiệp, Liên danh PV Power và Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ (TBPM) đã chủ động khắc phục ngay từ đầu đối với Dự án Hòa Ninh. Nhà máy đặt trong Khu công nghiệp Hòa Ninh rộng hơn 400 ha, do chính TBPM làm chủ đầu tư hạ tầng, nên mặt bằng đã sẵn có, giải phóng mặt bằng hoàn thành 100%, không phát sinh vướng mắc về bồi thường. Vị trí nhà máy cũng được chọn sát tuyến lưới điện hiện hữu, chỉ cần đầu tư 5 km nhánh rẽ 500kV và 6 km đường dây 220kV để hòa mạng quốc gia.

PV Power là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam có kinh nghiệm thực tế đưa một nhà máy điện khí LNG lớn vào vận hành thương mại. Đội ngũ này đã sẵn sàng triển khai ngay dự án Hòa Ninh mà không mất thời gian đào tạo lại.

PV Power đề xuất cơ quan hữu quan chuyển dự án Hòa Ninh giai đoạn 1 (1.500 MW) sang danh mục chính thức trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; phê duyệt đồng bộ nguồn và lưới điện đấu nối, hoàn thành trước mốc chạy thử ít nhất 3-6 tháng; và sửa đổi Nghị định số 56/2025/NĐ-CP theo hướng nâng tỷ lệ sản lượng điện hợp đồng tối thiểu lên 75%, kéo dài thời gian áp dụng lên 15 năm.

Tại Hội thảo “Phát triển điện khí LNG: Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số”, các đại biểu đã được lắng nghe các tham luận chuyên sâu về điện khí LNG, phát họa bức tranh toàn cảnh về vai trò của điện khí LNG trong bảo đảm an ninh năng lượng. Gồm: “Quy hoạch điện VIII điều chỉnh với việc thúc đẩy phát triển điện khí LNG”; “Hoàn thiện chính sách điện khí LNG: Từ 'công suất trong quy hoạch' đến năng lực bảo đảm an ninh năng lượng”; “Hoàn thiện cơ chế tài chính - thị trường điện khí LNG: Mở khóa nguồn lực, bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số”; “Sự cần thiết về việc thực hiện Dự án nhà máy điện khí LNG Hòa Ninh - Đà Nẵng trong xu thế chuyển đổi xanh của thành phố đáng sống”; chia sẻ về “Vai trò quản lý nhà nước tại địa phương trong việc kết nối thực hiện thành công dự án điện khí LNG đầu tiên ở Việt Nam” và “Kinh nghiệm từ việc thực hiện Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3, 4 và kế hoạch phát triển dự án LNG Hòa Ninh”.

Nhóm PV miền Trung
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy