• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Xuất khẩu tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng

7 tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa đạt hơn 319,5 tỷ USD, tăng 21,7%, quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, tạo nền tảng duy trì đà tăng trưởng những tháng cuối năm.

Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới xung quanh vấn đề này.

Công nghiệp chế biến tiếp tục dẫn dắt xuất khẩu

- Theo số liệu mới công bố, 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng hóa đạt hơn 319,5 tỷ USD, tăng 21,7%. Ông đánh giá như thế nào về bức tranh xuất khẩu 7 tháng đầu năm?

TS. Phạm Anh Tuấn: Bức tranh xuất nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, đặc biệt ở quy mô thương mại và năng lực xuất khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%. Đây là mức tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 7 tháng đầu năm cao nhất từ trước đến nay, cho thấy năng lực sản xuất, giao hàng và mức độ tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục được duy trì tốt.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%.

Đáng chú ý, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 287,91 tỷ USD, chiếm 90,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Điều này phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo trong hoạt động xuất khẩu, đồng thời cho thấy nền tảng sản xuất phục vụ thị trường quốc tế đang được củng cố.

Một điểm sáng khác là Việt Nam tiếp tục duy trì được các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực có quy mô lớn. Trong 7 tháng đầu năm, có 31 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 93% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong đó 7 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 69,7%. Cơ cấu này cho thấy Việt Nam đã hình thành được hệ thống ngành hàng có năng lực cạnh tranh và khả năng dẫn dắt tăng trưởng, nổi bật là công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, thiết bị, dệt may, da giày và các sản phẩm nông nghiệp chế biến.

- Khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò lớn trong xuất khẩu. Theo ông, cần phát huy lợi thế này như thế nào để tạo thêm động lực cho nền kinh tế?

TS. Phạm Anh Tuấn: Khu vực doanh nghiệp FDI tiếp tục là lực lượng quan trọng thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm 2026, khu vực FDI, kể cả dầu thô, xuất khẩu 255,89 tỷ USD, tăng 26,4%. Điều này cho thấy Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các chuỗi sản xuất toàn cầu và có khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư gắn với hoạt động sản xuất, xuất khẩu.

Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới là làm thế nào để phát huy tốt hơn hiệu ứng lan tỏa từ khu vực FDI sang doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam từng bước nâng cấp năng lực sản xuất, công nghệ, quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Thay vì nhìn nhận FDI đơn thuần ở góc độ vốn đầu tư, cần coi đây là một kênh để doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn quốc tế, phương thức quản trị hiện đại và mạng lưới thị trường toàn cầu. Theo tôi, mục tiêu cần hướng tới là đưa doanh nghiệp trong nước từ vị trí cung ứng các sản phẩm, dịch vụ đơn giản lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từng bước hình thành năng lực sản xuất và thương hiệu riêng.

TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

- Trong bối cảnh nhu cầu thế giới phục hồi chưa đồng đều, ông dự báo hoạt động xuất khẩu của Việt Nam những tháng cuối năm 2026 sẽ diễn biến như thế nào?

TS. Phạm Anh Tuấn: Tôi cho rằng xuất khẩu những tháng cuối năm vẫn có khả năng duy trì tăng trưởng tích cực, dù tốc độ có thể khác nhau giữa các ngành hàng và thị trường. Cơ sở quan trọng là đà xuất khẩu 7 tháng đầu năm đang khá tốt, trong khi sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng. Trong 7 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,4%, mức tăng cao nhất của 7 tháng so với cùng kỳ trong nhiều năm. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tháng 7/2026 đạt 52,9 điểm, cao nhất kể từ tháng 2/2026. Đây là những chỉ dấu tích cực đối với hoạt động sản xuất và đơn hàng của doanh nghiệp.

Đặc biệt, việc nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng cũng tạo thêm dư địa cho sản xuất trong những tháng tới. Khi năng lực sản xuất được mở rộng, doanh nghiệp có thêm điều kiện đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu, nhất là trong những ngành có thị trường ổn định. Tôi đánh giá các nhóm hàng công nghiệp chế biến, điện tử, máy móc, dệt may, da giày và một số mặt hàng nông sản có thị trường tốt vẫn sẽ là những động lực quan trọng của xuất khẩu trong thời gian tới. Bên cạnh đó, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết tiếp tục tạo lợi thế lớn. Đây là nền tảng để doanh nghiệp mở rộng thị trường, đa dạng hóa khách hàng và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.

Mở rộng dư địa tăng trưởng từ FDI và FTA

- Theo ông, đâu sẽ là những động lực quan trọng nhất để xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng trong thời gian tới?

TS. Phạm Anh Tuấn: Trong ngắn hạn, động lực quan trọng nhất vẫn là sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo. Khi nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 90,1% kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng xuất khẩu về cơ bản gắn chặt với sức khỏe của khu vực sản xuất công nghiệp. Do đó, duy trì ổn định điện, logistics, lao động kỹ năng, vốn lưu động, nguyên liệu đầu vào và môi trường đầu tư là điều kiện trực tiếp để xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng.

Động lực thứ hai là dòng vốn FDI. Trong 7 tháng đầu năm 2026, vốn FDI đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58%; vốn FDI thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%. Đây là những kết quả tích cực, tiếp tục bổ sung năng lực sản xuất và tạo thêm động lực cho xuất khẩu. Tuy nhiên, cùng với thu hút FDI, cần quan tâm hơn đến chất lượng dự án, khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước và mức độ lan tỏa về công nghệ, kỹ năng, quản trị, tiêu chuẩn và đổi mới sáng tạo.

Động lực thứ ba là khả năng tận dụng các hiệp định thương mại tự do và mở rộng thị trường. Việt Nam đang có lợi thế lớn về mạng lưới FTA. Nếu doanh nghiệp tận dụng tốt các ưu đãi thuế quan, đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu truy xuất nguồn gốc, dư địa mở rộng xuất khẩu còn rất lớn.

- Vậy doanh nghiệp trong nước cần làm gì để tận dụng tốt hơn các cơ hội từ quá trình hội nhập?

TS. Phạm Anh Tuấn: Doanh nghiệp trong nước cần từng bước nâng cao năng lực để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Trước mắt, có thể trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn lớn; sau đó tiến tới làm chủ những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Đó có thể là sản xuất linh kiện, vật liệu, thiết kế, dịch vụ kỹ thuật, logistics, kiểm định, dữ liệu hoặc phát triển thương hiệu.

Điểm mấu chốt là chuyển từ tham gia chuỗi sang nâng cao vị trí trong chuỗi. Khi doanh nghiệp làm chủ được nhiều công đoạn hơn, giá trị gia tăng giữ lại trong nước sẽ tăng lên, đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng được củng cố. Đây là quá trình cần thời gian, nhưng hoàn toàn có cơ sở khi doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tích lũy được kinh nghiệm, công nghệ, năng lực quản trị và hiểu biết thị trường quốc tế.

- Từ thực tiễn 7 tháng đầu năm, ông có khuyến nghị gì về chính sách để tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu?

TS. Phạm Anh Tuấn: Theo tôi, chính sách cần tập trung vào ba mục tiêu: duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu, nâng cao giá trị gia tăng và củng cố năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh thuận lợi hóa thương mại và giảm chi phí logistics. Với quy mô thương mại gần 660 tỷ USD trong 7 tháng, việc cải thiện môi trường kinh doanh, hải quan số, kết nối dữ liệu và giảm các thủ tục kiểm tra chồng chéo sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao sức cạnh tranh.

Thứ hai, phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng có trọng tâm. Việt Nam cần tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng và lan tỏa lớn như điện tử, thiết bị điện, cơ khí chính xác, vật liệu kỹ thuật, linh kiện, bao bì công nghiệp, logistics công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật. Cùng với đó, cần tăng cường các chương trình kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam, hỗ trợ doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế và nâng cao năng lực trở thành nhà cung ứng trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Thứ ba, nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường. Tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu về môi trường đang ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng trong thương mại quốc tế. Nếu chuẩn bị sớm, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường mà còn có thể biến đây thành lợi thế cạnh tranh.

Thứ tư, tiếp tục tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp đầu tư nâng cấp công nghệ. Doanh nghiệp muốn đạt tiêu chuẩn quốc tế, chuyển đổi xanh, nâng cấp nhà xưởng, mở rộng sản xuất và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao cần nguồn vốn phù hợp. Vì vậy, bên cạnh tín dụng ngân hàng, cần phát triển các hình thức tài chính chuỗi cung ứng, tín dụng xanh, quỹ đổi mới công nghệ và các kênh vốn trung, dài hạn.

Thứ năm, nâng cao chất lượng thu hút FDI. FDI tiếp tục là động lực quan trọng của sản xuất và xuất khẩu. Do đó, cần ưu tiên các dự án có công nghệ cao, có khả năng phát triển nhà cung ứng trong nước, đào tạo nhân lực và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển tại Việt Nam.

Thứ sáu, cần tăng cường hệ thống thông tin thị trường và cảnh báo sớm để doanh nghiệp chủ động trước những thay đổi về chính sách thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy tắc xuất xứ, môi trường và nhu cầu của các thị trường lớn.

Xin cảm ơn ông!

Với nền tảng sản xuất, mạng lưới FTA rộng, năng lực thu hút FDI và sự tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, xuất khẩu Việt Nam còn nhiều dư địa tăng trưởng. Điều quan trọng trong giai đoạn tới là tiếp tục củng cố năng lực doanh nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và tận dụng tốt hơn các cơ hội từ hội nhập. Khi đó, xuất khẩu không chỉ tăng về kim ngạch mà còn tạo thêm động lực cho sản xuất, đầu tư, việc làm và tăng trưởng kinh tế.

Nguyễn Hạnh (thực hiện)
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy