Định giá phát thải
Sàn giao dịch carbon trong nước được vận hành thí điểm tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội từ ngày 29/6/2026, với hai loại hàng hóa gồm hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết năm 2028 trước khi thị trường vận hành chính thức từ năm 2029. Việc đưa sàn vào hoạt động tạo ra hạ tầng cần thiết cho giao dịch, nhưng điều quan trọng hơn là một nguyên tắc kinh tế mới bắt đầu được đặt vào hoạt động sản xuất: phát thải vượt mức được phân bổ sẽ phát sinh chi phí, còn khả năng giảm phát thải tốt hơn có thể tạo ra lợi ích.
Trong chu kỳ 2025-2026, 110 cơ sở thuộc ba ngành có mức phát thải lớn được thí điểm phân bổ tổng cộng 511.473.846 tấn CO₂ tương đương, gồm 51 nhà máy xi măng, 34 nhà máy nhiệt điện và 25 cơ sở sắt thép. Quy mô hơn 511 triệu tấn cho thấy thị trường đã có một lượng hàng hóa ban đầu rất đáng kể.
Theo cơ chế vận hành, đơn vị phát thải thấp hơn mức được giao có thể bán phần hạn ngạch dư; trường hợp phát thải vượt mức phải mua thêm hoặc sử dụng tín chỉ carbon theo tỷ lệ cho phép để thực hiện nghĩa vụ. Quyền phát thải vì thế dần mang hai tính chất song song. Với doanh nghiệp quản trị tốt, đó có thể là một loại tài sản có khả năng tạo giá trị; với đơn vị phát thải cao, nó trở thành khoản chi phí phải thanh toán.
Sự thay đổi ấy tác động trực tiếp đến cách doanh nghiệp tính toán đầu tư. Trước một phương án thay thế thiết bị hoặc đổi mới dây chuyền, bài toán trước đây chủ yếu xoay quanh suất đầu tư, năng suất, mức tiêu hao nhiên liệu và thời gian hoàn vốn. Khi carbon có giá, phép tính sẽ phải bổ sung chi phí phát thải trong toàn bộ vòng đời công nghệ. Một dây chuyền rẻ ở thời điểm đầu tư nhưng sử dụng nhiều năng lượng, phát thải cao có thể trở nên đắt hơn trong dài hạn. Ngược lại, thiết bị có vốn đầu tư ban đầu lớn hơn nhưng giúp tiết kiệm nhiên liệu và giảm CO₂ có thể tạo ra hiệu quả tài chính tốt hơn khi chi phí carbon ngày càng được phản ánh đầy đủ.
Doanh nghiệp phải cân nhắc giữa tiếp tục trả tiền cho lượng khí nhà kính tạo ra hay bỏ vốn nâng cấp công nghệ và quy trình sản xuất. Ảnh: Du Ca
Vấn đề nằm ở chỗ giá carbon phải đủ sức hấp dẫn doanh nghiệp. Các chuyên gia cho rằng, khoảng 147 USD/tín chỉ carbon là ngưỡng giá có thể tạo tác động đủ lớn tới quyết định của các chủ thể phát thải. Nếu phát thải trở thành khoản chi phí đáng kể, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa tiếp tục trả tiền cho lượng khí nhà kính tạo ra hay bỏ vốn nâng cấp công nghệ và quy trình sản xuất.
Từ góc độ quản lý, bài toán giá vì thế cần được xem xét kỹ lưỡng. Giá quá thấp sẽ khiến mua hạn ngạch có thể trở thành lựa chọn dễ dàng hơn đầu tư công nghệ, làm suy giảm động lực chuyển đổi. Tuy nhiên, nếu chi phí phát thải tăng quá nhanh trong khi doanh nghiệp chưa đủ thời gian chuẩn bị, sức ép tài chính lại có thể tác động mạnh tới hoạt động sản xuất. Điều thị trường cần trước hết là một lộ trình ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo để doanh nghiệp nhìn thấy xu hướng dài hạn, từ đó chủ động tính toán phương án đầu tư thay vì chờ đến khi nghĩa vụ phát sinh mới xử lý.
Trong tháng 6/2026, mã hạn ngạch VN2025 ghi nhận khối lượng giao dịch 1.210 tCO₂e với tổng giá trị 161,66 triệu đồng; tháng 7 và tháng 8 giao dịch tạm thời chững lại. So với tổng lượng hạn ngạch đã đăng ký, con số này còn rất nhỏ. Tuy nhiên, sẽ thiếu cơ sở nếu lấy vài tháng đầu để kết luận thị trường thành công hay chưa thành công, bởi giai đoạn thí điểm trước hết phải giúp các chủ thể làm quen với cơ chế mới, hoàn thiện phương thức phân bổ, tích lũy dữ liệu giao dịch và từng bước hình thành tín hiệu giá.
Áp lực trở thành lợi thế?
Khả năng kết nối với thị trường quốc tế mở ra cơ hội mới cho quá trình phát triển thị trường carbon của Việt Nam. Chính phủ đã phê duyệt Thỏa thuận thực hiện Điều 6 Thỏa thuận Paris giữa Việt Nam và Singapore, thiết lập khuôn khổ pháp lý để các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam phát triển dự án giảm phát thải, tạo tín chỉ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và thực hiện chuyển giao sang Singapore. Bước đi này tạo thêm một con đường để kết quả giảm phát thải trong nước có thể được chuyển thành nguồn lực tài chính.
Với doanh nghiệp, cơ hội dễ thấy nhất là khả năng thu hút dòng vốn cho các dự án xanh. Việc thương mại hóa tín chỉ qua Điều 6 có thể hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính quốc tế, giảm bớt áp lực phải tự trang trải toàn bộ chi phí chuyển đổi công nghệ. Trong bối cảnh nhiều giải pháp giảm phát thải cần vốn đầu tư lớn, việc tạo ra dòng tiền từ kết quả cắt giảm khí nhà kính có thể cải thiện tính khả thi của dự án và tạo thêm động lực cho quá trình đổi mới.
Dù vậy, sẽ quá đơn giản nếu cho rằng cứ thực hiện một dự án xanh là có thể tạo tín chỉ để bán. Thị trường quốc tế đặt yêu cầu cao về phương pháp luận, khả năng kiểm chứng và tính toàn vẹn môi trường. Giá trị tín chỉ phụ thuộc vào việc mức giảm phát thải có thực chất hay không, có được đo đếm đáng tin cậy hay không và có đáp ứng tiêu chuẩn được chấp nhận hay không. Vì vậy, tiềm năng lớn về giảm phát thải chưa đồng nghĩa với một nguồn tín chỉ có giá trị lớn; khoảng cách giữa hai yếu tố ấy được quyết định bởi tiêu chuẩn, dữ liệu, công nghệ và năng lực tổ chức thực hiện.
Đây cũng là điểm cần nhìn nhận thận trọng trong quá trình mở cửa thị trường quốc tế. Nếu mục tiêu bị thu hẹp thành việc tạo càng nhiều tín chỉ càng tốt để bán ra bên ngoài, lợi ích trước mắt có thể lấn át những tính toán dài hạn. Nguyên tắc tránh tính trùng có nghĩa một kết quả giảm phát thải sau khi chuyển giao sẽ không thể tiếp tục được tính cho mục tiêu của quốc gia chủ nhà. Việc quyết định chuyển giao vì thế phải được đặt trong tương quan giữa giá trị kinh tế thu được và nhu cầu giảm phát thải của chính nền kinh tế Việt Nam.
Chất lượng tín chỉ cũng quan trọng hơn số lượng. Một thị trường phát triển bền vững không thể dựa trên việc tạo ra thật nhiều đơn vị carbon có giá thấp, thiếu tính thuyết phục về mức giảm phát thải thực tế. Khi người mua ngày càng quan tâm đến mức độ toàn vẹn môi trường, doanh nghiệp có khả năng chứng minh chất lượng tốt hơn sẽ có lợi thế lớn hơn. Cuộc cạnh tranh vì vậy sẽ dịch chuyển từ “có tín chỉ hay không” sang “tín chỉ có chất lượng đến đâu”.
Cách tiếp cận trong nước hiện nay cũng cho thấy mục tiêu chính sách không phải để doanh nghiệp dễ dàng mua tín chỉ thay cho việc đầu tư giảm phát thải. Quy định cho phép sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ tối đa 30% lượng hạn ngạch được cấp nhằm hạn chế tình trạng đơn vị phát thải chỉ dựa vào mua tín chỉ để đáp ứng nghĩa vụ, qua đó duy trì động lực đầu tư công nghệ và trực tiếp cắt giảm lượng khí nhà kính. Giới hạn này có ý nghĩa quan trọng bởi nếu chi phí mua tín chỉ luôn thấp hơn đầu tư đổi mới, doanh nghiệp rất dễ lựa chọn giải pháp ngắn hạn và trì hoãn chuyển đổi.
Nếu nhiều doanh nghiệp cùng đi theo hướng giảm phát thải thực chất, tác động sẽ lan rộng sang thị trường công nghệ và đầu tư. Nhu cầu đối với thiết bị tiết kiệm năng lượng tăng lên, những dây chuyền hiệu suất thấp phải chịu sức ép thay thế, dự án giảm phát thải có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn, trong khi năng lực quản trị dữ liệu carbon dần trở thành một yêu cầu mới đối với doanh nghiệp. Một thị trường được thiết kế tốt vì thế có thể tạo ra chuỗi tác động sâu hơn rất nhiều so với hoạt động mua bán hạn ngạch trên sàn.

Việt Nam đã xác định mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Ảnh minh họa
Việt Nam đã xác định mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; thị trường carbon được đặt trong lộ trình thực hiện mục tiêu này. Khoảng cách từ một cam kết dài hạn đến từng quyết định đầu tư trong doanh nghiệp rất lớn, và giá carbon có thể trở thành một trong những công cụ nối hai cấp độ đó với nhau. Khi chi phí phát thải được phản ánh ngày càng rõ, mục tiêu giảm khí nhà kính không còn đứng bên ngoài hoạt động kinh doanh mà đi vào quyết định lựa chọn công nghệ, sử dụng năng lượng, quản trị chi phí và phân bổ vốn.
Chặng đường xây dựng thị trường chắc chắn còn nhiều việc phải làm. Thể chế cần tiếp tục hoàn thiện, hệ thống MRV phải đủ độ tin cậy, phương pháp phân bổ hạn ngạch cần phù hợp, chất lượng tín chỉ phải được kiểm soát, còn giá carbon phải từng bước thể hiện đúng chức năng định hướng. Doanh nghiệp cũng cần thời gian để hình thành năng lực quản trị mới. Những vấn đề này khó có thể hoàn tất trong một vài năm đầu và càng không thể giải quyết chỉ bằng việc đưa sàn giao dịch vào hoạt động.
Thành công của thị trường carbon vì thế không nên được đo chủ yếu bằng số lượng tài khoản, khối lượng lệnh hay tổng giá trị mua bán. Những chỉ số ấy cần thiết để phản ánh mức độ vận hành, nhưng câu hỏi quan trọng hơn phải là sau mỗi giai đoạn, cường độ phát thải của các cơ sở sản xuất có giảm hay không, doanh nghiệp có đầu tư nhiều hơn cho công nghệ hiệu quả hay không, năng lượng được sử dụng tiết kiệm hơn hay không và dòng vốn có thực sự hướng tới những hoạt động tạo ra ít carbon hơn hay không.
Thị trường carbon Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Việc xây dựng sàn giao dịch và hình thành cơ chế mua bán hạn ngạch phát thải mới chỉ là nền móng; giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kết nối thị trường trong nước với mạng lưới carbon toàn cầu, mở thêm một kênh huy động vốn xanh và tạo động lực cho quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng phát thải thấp.


