A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Kỳ cuối: Thủy sản công nghệ cao thích ứng biến đổi khí hậu

Trong chiến lược tăng trưởng xanh, tỉnh xác định thủy sản (TS) là một trong những ngành kinh tế chủ lực. Hướng tới mục tiêu tăng sản lượng, việc ứng dụng công nghệ cao (CNC), phát triển nuôi trồng sinh thái, mở rộng liên kết sản xuất và hỗ trợ sinh kế vùng ven biển, tạo động lực để ngành TS nâng cao sức cạnh tranh, thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).

Ông Ngô Việt Thắng (xã Long Thành) kiểm tra tôm nuôi định kỳ, kịp thời đánh giá tốc độ sinh trưởng.
Ông Ngô Việt Thắng (xã Long Thành) kiểm tra tôm nuôi định kỳ, kịp thời đánh giá tốc độ sinh trưởng.

Trước những tác động ngày càng rõ nét của BĐKH, ngành TS đang chuyển mạnh từ nuôi truyền thống sang ứng dụng CNC, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số nhằm nâng cao giá trị gia tăng, giảm phát thải và phát triển bền vững. Diện tích nuôi đạt tiêu chuẩn GAP, BAP và ASC không ngừng tăng; diện tích nuôi thâm canh, thâm canh mật độ cao đạt gần 24 ngàn ha, trong khi vùng nuôi nghêu đạt chứng nhận ASC đạt 433ha.

Tỉnh tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi, cấp thoát nước phục vụ nuôi trồng TS; khuyến khích ứng dụng công nghệ nuôi tuần hoàn, tái sử dụng nước, xử lý chất thải nhằm giảm ô nhiễm môi trường. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, HTX và nông hộ, mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ASC và mô hình nuôi sinh thái.

Tại HTX Nông nghiệp Long Khánh, mô hình liên kết nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh mật độ cao đang hình thành chuỗi giá trị thủy sản bền vững. Ông Ngô Văn Đệ- Chủ tịch HĐQT HTX Nông nghiệp Long Khánh (xã Long Thành) cho biết HTX có khoảng 60 hộ thành viên tham gia liên kết, với hơn 120ha diện tích nuôi và gần 200 ao nuôi. Mỗi năm, HTX cung ứng từ 800-1,2 ngàn tấn tôm thương phẩm.

Theo ông Đệ, BĐKH khiến thời tiết diễn biến bất thường, chất lượng nguồn nước thay đổi, làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh nguy hiểm như EHP, TPD, bệnh phân trắng. Vì vậy, HTX chủ động áp dụng quy trình quản lý môi trường chặt chẽ, kiểm soát nguồn giống; phối hợp với Công ty TNHH Tongwei Việt Nam xây dựng trung tâm xét nghiệm bệnh học độc lập nhằm kiểm soát chất lượng nguồn nước và con giống trước khi thả nuôi.

HTX từng bước xây dựng vùng nuôi đạt các tiêu chuẩn VietGAP, BAP và ASC; đẩy mạnh số hóa dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và quản lý vùng nuôi. Tuy nhiên, việc thiếu nhân lực chuyên môn, kinh phí duy trì chứng nhận và nguồn lực phục vụ chuyển đổi số còn khó khăn cần tiếp tục tháo gỡ.

Cùng lựa chọn hướng đi CNC, gia đình ông Ngô Việt Thắng (xã Long Thành) đã chuyển toàn bộ 5 công mặt nước sang nuôi tôm CNC. Mỗi vụ thả khoảng 200 ngàn con giống/ao, duy trì 3 vụ nuôi/năm và đạt lợi nhuận bình quân từ 400-500 triệu đồng/vụ.

Theo ông Thắng, mô hình nuôi tôm CNC đòi hỏi người nuôi nắm vững quy trình kỹ thuật, thường xuyên theo dõi chỉ tiêu môi trường, kiểm soát dịch bệnh, quản lý lượng thức ăn và chất lượng nước. Nhờ đó, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, giảm rủi ro do thời tiết bất thường.

Ông Châu Hữu Trị- Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh cho biết nhiều tiến bộ kỹ thuật được chuyển giao rộng rãi, nổi bật là mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh 2 giai đoạn ứng dụng công nghệ 4.0 kết hợp hầm biogas xử lý môi trường. Hệ thống cảm biến tự động giúp giám sát chất lượng nước liên tục, kịp thời cảnh báo các yếu tố bất lợi; trong khi chất thải được xử lý qua hầm biogas, góp phần giảm ô nhiễm và tiết kiệm chi phí sản xuất.

Bên cạnh đó, mô hình nuôi siêu thâm canh ít thay nước đang được nhiều hộ dân áp dụng. Việc quản lý môi trường bằng công nghệ hiện đại giúp người nuôi có thể thực hiện từ 4-5 vụ/năm, đạt năng suất 100-120 tấn/ha/năm, hạn chế nguy cơ xâm nhập mầm bệnh từ bên ngoài. Mô hình nuôi an toàn sinh học sử dụng chế phẩm vi sinh thay thế hóa chất đang mở ra hướng sản xuất sạch, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Bên cạnh đổi mới công nghệ, việc nâng cao khả năng chống chịu cho cộng đồng ven biển được xác định là giải pháp căn cơ phát triển TS bền vững. Tỉnh đang triển khai Dự án khuyến khích tài chính đổi mới để tạo sinh kế thích ứng ở vùng đất ngập nước tại tỉnh (IFIA Trà Vinh) với tổng vốn hơn 65,3 tỷ đồng do Quỹ Thích ứng BĐKH tài trợ thông qua Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp.

Giám đốc Ban Quản lý Dự án CSAT Trà Vinh- Hồng Ngọc Hưng cho biết dự án triển khai tại 16 xã và 2 phường ven biển, tập trung hoàn thiện cơ chế tài chính đổi mới, thúc đẩy hợp tác công- tư trong thích ứng BĐKH và nhân rộng mô hình sinh kế gắn với bảo tồn rừng ngập mặn.

Dự kiến có khoảng 3,6 ngàn hộ dân, tương đương hơn 12,6 ngàn người được hưởng lợi trực tiếp; khoảng 5 ngàn ha rừng ngập mặn được phục hồi theo hướng quản lý bền vững, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái và cộng đồng ven biển. Từ nguồn lực hỗ trợ này, nhiều hộ dân mạnh dạn chuyển đổi sang các mô hình nuôi kết hợp nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Tại xã Long Thành, anh Nguyễn Linh Vương (ấp Đình Củ) phát triển mô hình nuôi tôm sú kết hợp cua trên diện tích 3ha. Mỗi năm, gia đình thu hoạch khoảng 1,2 tấn tôm sú và 600kg cua thương phẩm, doanh thu khoảng 360 triệu đồng, lợi nhuận khoảng 240 triệu đồng.

Trong khi đó, anh Trương Thành Lô (ấp Bà Nhì, xã Đôn Châu) duy trì mô hình tôm- cua hơn 10 năm qua. Với 3 công đất, mỗi vụ nuôi kéo dài khoảng 5 tháng, mô hình mang lại nguồn thu ổn định, phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng ven biển.

Ông Châu Văn Hòa- Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, thực tiễn cho thấy, đa dạng hóa đối tượng nuôi kết hợp ứng dụng khoa học công nghệ đang trở thành hướng đi hiệu quả để giảm thiểu rủi ro trước BĐKH, nâng cao giá trị kinh tế trên cùng đơn vị diện tích.

Để phát triển ngành TS bền vững, tỉnh tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng vùng nuôi, tăng cường quan trắc môi trường, kiểm soát dịch bệnh, xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ, hỗ trợ người dân tiếp cận vốn ưu đãi và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý vùng nuôi.

Có thể thấy, từ các mô hình nuôi CNC, liên kết sản xuất đến chương trình hỗ trợ sinh kế thích ứng với BĐKH, ngành TS của tỉnh đang chuyển mạnh sang phát triển dựa trên chất lượng, công nghệ và giá trị gia tăng.

Cùng với năng lượng tái tạo và nông nghiệp xanh, TS CNC trở thành một trong những trụ cột của tăng trưởng xanh, góp phần khai thác hiệu quả lợi thế sông- đất liền- biển, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, nâng cao khả năng chống chịu trước BĐKH và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Theo Đề án số 04-ĐA/TU, ngày 15/7/2026 của Tỉnh ủy cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh giai đoạn 2025-2030, định hướng đến năm 2045, diện tích nuôi TS của tỉnh đạt hơn 121 ngàn ha và 429 ngàn m³ lồng, bè. Tôm thẻ chân trắng tiếp tục được xác định là đối tượng nuôi chủ lực với 26,2 ngàn ha, trong đó có 10 ngàn ha ứng dụng CNC; đến năm 2045, diện tích nuôi ổn định và mở rộng lên khoảng 30 ngàn ha, trong đó khoảng 20 ngàn ha nuôi CNC. Tỉnh duy trì khoảng 49,1 ngàn ha nuôi tôm sú, mở rộng khoảng 50 ngàn ha vào năm 2045; phát triển các mô hình tôm- lúa, tôm- rừng; mở rộng nuôi cua biển theo mô hình cua- tôm, cua- cá- tôm và cua- rừng ngập mặn nhằm nâng cao hiệu quả và thích ứng với BĐKH


Tin liên quan