A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Kinh tế tỉnh duy trì đà tăng trưởng tích cực

9 tháng năm 2026, kết quả tăng trưởng kinh tế của tỉnh (GRDP) tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, khẳng định sự nỗ lực, tính quyết liệt và hiệu quả cao trong công tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền địa phương 2 cấp.

Trong 9 tháng qua, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính. Trong ảnh: Sản xuất tại Công ty TNHH Saturn Engineering Systems Việt Nam. Ảnh: KHÁNH DUY

Trong 9 tháng qua, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính. Trong ảnh: Sản xuất tại Công ty TNHH Saturn Engineering Systems Việt Nam. Ảnh: KHÁNH DUY

Trong 9 tháng, công tác chỉ đạo, điều hành bám sát các nghị quyết, kết luận của Trung ương, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và chương trình công tác của UBND tỉnh. Việc triển khai các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị, nhất là các nghị quyết 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72, 79 và 80-NQ/TW được các ngành, các địa phương quan tâm thực hiện.

Theo số liệu Cục Thống kê công bố tại họp báo về tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cả nước 9 tháng tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên.

Riêng GRDP của tỉnh đạt 7,32%, rút ngắn khoảng cách chênh lệch so với tốc độ tăng trưởng cả nước từ 2,08% trong quý I, xuống còn 1,77 trong 6 tháng và còn 1,69% trong 9 tháng.

Theo Báo cáo của UBND tỉnh (ngày 20/9/2026), trong 9 tháng, công nghiệp sản xuất và phân phối điện ước tăng 13,52%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có vai trò động lực chính, tăng 10,2%. Có 18/28 nhóm sản phẩm chế biến, chế tạo tăng so với cùng kỳ, trong đó 5 nhóm đạt hoặc vượt kế hoạch sản lượng. Một số doanh nghiệp (DN) mở rộng sản xuất, tạo thêm năng lực mới cho ngành.

Đến nay, toàn tỉnh có trên 13.400 DN hoạt động, đóng góp hơn 55% GDP và tạo động lực thúc đẩy xuất khẩu, đầu tư, giải quyết việc làm. Trong lĩnh vực nông nghiệp, DN góp phần hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn, liên kết với nông dân, đầu tư chế biến sâu và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Theo ông Trần Văn Đức- Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Dừa BEINCO, DN, khu vực kinh tế tư nhân đang giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế tỉnh. Thời gian tới, cộng đồng DN cam kết đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, nâng giá trị nông sản, góp phần xây dựng tỉnh phát triển xanh, bền vững và thịnh vượng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 152.400 tỷ đồng, tăng 19,54%. Trong đó, bán buôn, bán lẻ tăng 18,4%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 45%; vận tải, kho bãi tăng 16,2%. Du lịch cũng tăng trưởng khá. Tỉnh đón khoảng 4,89 triệu lượt khách, tăng 15,1%; khách quốc tế đạt hơn 851.000 lượt, tăng 17,2%; tổng thu từ du lịch hơn 4.400 tỷ đồng, tăng 27,6%.

Xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt 3,289 tỷ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ và đạt 80,2% kế hoạch năm. Trong đó, khu vực DN trong nước tăng 43,4%. Kim ngạch nhập khẩu đạt 1,628 tỷ USD, tăng 19,4%.

Ở lĩnh vực xây dựng, kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 của tỉnh hơn 13.800 tỷ đồng. Ước giải ngân đến hết tháng 9 đạt 7.800 tỷ đồng, tương đương 54,6% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao. Nhiều công trình lớn đang được đẩy nhanh tiến độ như ĐT915, cầu Ba Lai 8, cải tạo nâng cấp QL57, gia cố xử lý sạt lở bờ biển Bình Đại và hạ tầng hồ chứa nước ngọt…

Theo đánh giá của Cục Thống kê quốc gia, trong 9 tháng, tỉnh vẫn thuộc nhóm địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp của cả nước. Mặc dù con số 7,32% còn thấp so với cả nước nhưng đã khẳng định tính quyết liệt, nỗ lực rất to lớn của hệ thống chính trị địa phương trong công tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế, trong đó tập trung vào đổi mới mô hình tăng trưởng, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn.

Cục Thống kê cũng nhận định nhóm địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp, trong đó có tỉnh, là do chịu tác động bởi sự sụt giảm của sản xuất điện và tỷ trọng nông nghiệp khá cao trong cơ cấu kinh tế. Trong khi đó, những địa phương đạt mức tăng trưởng cao thường có nền tảng công nghiệp, quy mô chế biến, chế tạo lớn và được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu, dịch vụ.

Những tháng cuối năm 2026 có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Để tăng tốc trong quý IV, vấn đề không chỉ là có nguồn lực, mà quan trọng hơn là khả năng hấp thụ và chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng.

Tỉnh định hướng phát triển công nghiệp, năng lượng. Trong ảnh: Điện gió Duyên Hải. Ảnh: KHÁNH DUY

Tỉnh định hướng phát triển công nghiệp, năng lượng. Trong ảnh: Điện gió Duyên Hải. Ảnh: KHÁNH DUY

Theo kịch bản của UBND tỉnh, quý IV sẽ là giai đoạn tăng tốc ở cả 3 khu vực. Đặc biệt, trong công nghiệp - xây dựng, tỉnh duy trì và mở rộng năng lực sản xuất, đẩy nhanh các dự án năng lượng, đồng thời tập trung các công trình hạ tầng có tác động lan tỏa. Riêng sản xuất và phân phối năng lượng năm 2026 được xây dựng với sản lượng khoảng 29,99 tỷ kWh, tăng 30,68% so với năm 2025. Trong quý VI, dự kiến có 4 dự án điện gió mới tổng công suất 254MW sẽ đi vào hoạt động. Duy trì và mở rộng năng lực sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với cơ sở tăng trưởng dự kiến 15,39%.

Một trong những vấn đề được UBND tỉnh nhìn nhận là giải ngân vốn đầu tư công dù có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với kế hoạch.

Định hướng trong thời gian tới, đồng chí Nguyễn Trúc Sơn- Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, tỉnh sẽ tập trung nguồn lực lớn cho hạ tầng phát triển kinh tế. Riêng nguồn thu xổ số kiến thiết đóng góp gần 8.000 tỷ đồng, chiếm hơn 60% trong tổng số khoảng 13.000 tỷ đồng nguồn vốn đầu tư hạ tầng của tỉnh, tập trung cho giao thông, y tế và giáo dục.

Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh hoàn thiện các dự án giao thông động lực thúc đẩy kinh tế biển và liên vùng như tuyến đường ven biển qua Thạnh Hải - Thạnh Phong, cầu Ba Lai 8 và đường dẫn; xúc tiến các dự án cầu Cổ Chiên 2, cầu Cửa Đại, cao tốc CT33 và nâng cấp QL57. Đây không chỉ là câu chuyện của một dự án xây dựng, mà là tạo lại không gian phát triển mới cho công nghiệp, thương mại, logistics, đô thị và kinh tế biển.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Trúc Sơn yêu cầu tiếp tục tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, nhất là đất đai; chuẩn bị triển khai các quy định mới của Luật Đất đai sửa đổi để giải quyết vấn đề về hạn điền, cấp giấy chứng nhận và cho thuê đất. Đồng thời, phải chấn chỉnh hoạt động tại bộ phận một cửa, không để xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, kéo dài thời gian xử lý thủ tục của người dân và DN.

Trước đó, tại cuộc họp thường kỳ tháng 8, đồng chí Trần Trí Quang- Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu sở, ban, ngành tỉnh, địa phương nhìn nhận thẳng thắn, thực chất hạn chế. Trong đó, có nhiều chương trình công tác của UBND tỉnh chưa hoàn thành; giải ngân đầu tư công vẫn là điểm nghẽn lớn nhất; sức khỏe của khu vực DN vẫn còn vấn đề; sản xuất nông nghiệp chưa thật sự bền vững, liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ còn yếu; một số dự án công nghiệp, năng lượng, hạ tầng và cụm công nghiệp còn chậm.

UBND tỉnh cũng vừa ban hành kế hoạch “Hành động cao điểm 90 ngày đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long”. Điểm nhấn của kế hoạch là yêu cầu triển khai đồng bộ, xuyên suốt từ tỉnh đến cơ sở, gắn trách nhiệm cụ thể với từng cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân được giao nhiệm vụ. Tỉnh xác định việc thực hiện nghiêm nguyên tắc “6 rõ”, gồm: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả, nhằm khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, đồng thời nâng cao tính chủ động trong tổ chức thực hiện.

Chủ tịch UBND tỉnh Trần Trí Quang nhấn mạnh, đối với đầu tư, phải khơi thông các dự án động lực và đẩy nhanh giải ngân đầu tư công. Đối với tiêu dùng, phải phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và chuẩn bị tốt hàng hóa cho các dịp lễ, Tết cuối năm. Đối với xuất khẩu, phải hỗ trợ DN tận dụng các FTA, mở rộng thị trường Trung Quốc, Halal, Trung Đông, Nam Á; đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu xanh.

Theo kế hoạch, tỉnh đặt ra các mốc giải ngân cụ thể nhằm tạo áp lực tiến độ và thuận lợi cho công tác theo dõi, kiểm tra, đánh giá. Đến ngày 31/10/2026, tỷ lệ giải ngân tối thiểu phải đạt 70% kế hoạch vốn. Đến ngày 30/11/2026 đạt 80%. Đến ngày 31/12/2026 đạt 90% và phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch vốn vào ngày 31/1/2027.


Tin liên quan