A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ, về kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hoạt động nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Trường đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)
Hoạt động nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Trường đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)

Khoa học, công nghệ đi vào từng dây chuyền sản xuất, từng sản phẩm, ngành hàng và phương thức quản trị, đang “đánh thức” những nguồn lực truyền thống, tạo thêm giá trị và sức cạnh tranh cho nền kinh tế.

Mô hình phát triển đất nước có vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở định hướng chiến lược cho toàn bộ quá trình phát triển quốc gia. Một mô hình phát triển đúng đắn sẽ giúp xác định động lực tăng trưởng, phương thức phân bổ nguồn lực, cơ chế vận hành của nền kinh tế và định hình các ưu tiên phát triển trong dài hạn.

Những năm qua, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển đất nước có bước chuyển biến rõ rệt. Tư duy phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng được khẳng định trong hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện ở các ngành, lĩnh vực, địa phương và doanh nghiệp.

Chia sẻ về hiệu quả chuyển đổi đưa khoa học và công nghệ vào sản xuất, Giám đốc Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì Đào Công Trường cho biết, năm 2007 khi thành lập cơ sở sản xuất bánh sữa, mọi công đoạn đều thủ công, sữa được nấu bằng bếp truyền thống, bánh được cán bằng tay, gói bằng giấy nên 100kg sữa tươi chỉ làm được khoảng 13kg bánh sữa.

Gần đây khi chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang chế biến hiện đại với quy trình ứng dụng khoa học, kỹ thuật từ khâu chăn nuôi, vắt sữa, vận chuyển, bảo quản, kiểm nghiệm, phân tích độ béo, chất khô đến vi sinh, tồn dư kháng sinh và chế biến; ứng dụng công nghệ sấy lạnh ở nhiệt độ âm 40oC… thì sản lượng, chất lượng sản phẩm của công ty tăng lên đáng kể. Công ty đang liên kết với 45 hộ dân, quy mô gần 300 con bò sữa, mỗi ngày thu mua khoảng 5,3 tấn sữa tươi; có 5 sản phẩm của công ty được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia; 15 sản phẩm đạt OCOP 4 sao cấp thành phố.

Ở góc độ địa phương, theo Thạc sĩ Thái Thị Thu Hường, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên, ngành khoa học và công nghệ tỉnh có những đóng góp quan trọng ở các khâu đột phá, giải quyết những vấn đề trọng tâm. Bình quân giai đoạn 2021-2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt khoảng 8,62%/năm; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP bình quân đạt 46,94%; riêng năm 2025 đạt 52,27% cho thấy mô hình tăng trưởng của tỉnh đang từng bước chuyển từ “dựa vào vốn và lao động” sang “dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo”.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, kết thúc năm 2025, doanh thu toàn ngành ước đạt 5.465.819 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2024; giá trị đóng góp vào GDP ước đạt 1.443.769 tỷ đồng. Báo cáo kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm 2026 của Bộ Tài chính cho thấy, trong 9 tháng qua, cơ quan quản lý đã tiếp nhận 132.701 đơn sở hữu công nghiệp, xử lý 160.848 đơn và cấp 64.815 văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp; tổng giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ được Bộ Khoa học và Công nghệ đăng ký đạt 15.997,198 tỷ đồng.

Trung tâm Nano và Năng lượng, Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: GIANG HUY)
Trung tâm Nano và Năng lượng, Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: GIANG HUY)

Định hướng phát triển bền vững

Mặc dù nhận thức chung về vai trò của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đã được nâng lên nhưng thị trường khoa học và công nghệ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Trong đó, nguồn lực khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số còn phân tán; liên kết viện-trường-doanh nghiệp và giữa nghiên cứu với sản xuất, thị trường còn yếu; phần lớn doanh nghiệp trong nước hạn chế về vốn, nhân lực, năng lực hấp thụ và R&D.

Theo Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước, tạo việc làm cho hơn 40 triệu lao động, hiện diện ở hầu hết lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực đang chịu áp lực lớn nhất trước yêu cầu về vốn, công nghệ, nhân lực số, quản trị dữ liệu, khả năng đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo dữ liệu số, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh, hộ chiếu số sản phẩm, quản trị điện tử, bảo vệ dữ liệu, thương mại điện tử xuyên biên giới…

Theo các chuyên gia, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được kết nối thành chuỗi: Nghiên cứu-phát triển công nghệ-thử nghiệm-sản xuất- thương mại hóa-mở rộng thị trường. Vấn đề trọng tâm hiện nay không chỉ là lựa chọn thêm công nghệ hoặc tăng đầu tư, mà là hình thành năng lực quốc gia để tiếp nhận, làm chủ, cải tiến, sản xuất và thương mại hóa công nghệ. Thước đo cần chuyển dần từ số lượng nhiệm vụ, đề tài và kinh phí sang việc Việt Nam làm chủ được khâu nào trong chuỗi giá trị; doanh nghiệp nào có thể tích hợp, sản xuất; viện, trường nào tạo được tri thức và nhân lực; hạ tầng nào được dùng chung; sản phẩm nào đã qua thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa và có thị trường.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, đổi mới mô hình tăng trưởng không đồng nghĩa với việc bổ sung một số chương trình khoa học hoặc nền tảng số vào mô hình cũ. Đó là sự thay đổi toàn diện cách phân bổ nguồn lực, tổ chức nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp, thu hút FDI, đào tạo nhân lực, quản trị dữ liệu và đánh giá kết quả. Thước đo cuối cùng không phải số lượng đề án hoặc kinh phí đã chi, mà là mức tăng năng suất, sản phẩm mới, doanh nghiệp lớn mạnh, công nghệ được làm chủ, việc làm có thu nhập cao và giá trị gia tăng được giữ lại trong nước.

Giai đoạn tới, thành công phụ thuộc vào khả năng biến định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW thành cơ chế thực thi có trọng tâm, có nguồn lực, có chủ thể chịu trách nhiệm và có hệ thống đo lường minh bạch. Khi thể chế khuyến khích thử nghiệm, doanh nghiệp trở thành trung tâm, viện-trường gắn với thị trường, đầu tư R&D đạt đủ ngưỡng và dữ liệu được khai thác an toàn, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới có thể trở thành động lực chính của tăng trưởng nhanh và bền vững.

Nhiều chuyên gia cho rằng, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế có thu nhập thấp, tương đối khép kín, sang nền kinh tế có độ mở lớn, có năng lực sản xuất công nghiệp và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ sang mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam khẳng định phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thật sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đó là những định hướng tạo dựng nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vững mạnh nhằm phát triển kinh tế-xã hội đất nước đột phá và bền vững.


Tin liên quan