• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tiêu chuẩn xanh mở đường cho gạo Việt vào các thị trường cao cấp

Sản xuất phát thải thấp đang trở thành xu hướng tất yếu của ngành lúa gạo trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng đề cao các tiêu chuẩn xanh và phát triển bền vững.

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.

Sản xuất lúa phát thải thấp đang tạo ra 'lợi ích kép'

- Thưa ông, đến thời điểm này, việc triển khai các mô hình sản xuất lúa phát thải thấp tại Việt Nam đã đạt được những kết quả như thế nào?

Ông Lê Thanh Tùng: Hiện nay, ngành nông nghiệp đang triển khai song song hai chương trình lớn liên quan đến giảm phát thải trong sản xuất lúa. Thứ nhất là Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”. Đây là chương trình trọng điểm nhằm tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo theo hướng chất lượng cao, giảm phát thải và nâng cao giá trị gia tăng. Thứ hai là Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt đến năm 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050”, trong đó cây lúa là một trong những đối tượng sản xuất trọng tâm.

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA). Ảnh: Nguyễn Hạnh

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA). Ảnh: Nguyễn Hạnh

Nếu là Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp tập trung vào vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước là Đồng bằng sông Cửu Long thì chương trình trồng trọt giảm phát thải được triển khai ở tất cả các vùng sinh thái có sản xuất lúa.

Sau hơn hai năm triển khai Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng và phát thải thấp và gần một năm thực hiện Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt, có thể thấy sản xuất lúa phát thải thấp đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ nông dân, doanh nghiệp và các địa phương.

Điều đáng chú ý là sự quan tâm này không xuất phát từ yêu cầu hành chính hay các mục tiêu môi trường đơn thuần mà đến từ hiệu quả kinh tế rất rõ ràng mà mô hình mang lại. Các tổng kết bước đầu cho thấy chi phí sản xuất giảm từ 20 - 30%, chủ yếu nhờ giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân bón hợp lý hơn và hạn chế thuốc bảo vệ thực vật. Trong khi đó, năng suất không giảm mà còn có xu hướng tăng. Nhiều mô hình ghi nhận năng suất tăng từ 10 - 20% nhờ quy trình canh tác khoa học hơn.

Đặc biệt, lượng phát thải khí nhà kính giảm đáng kể. Bình quân mỗi ha có thể giảm từ 4 - 6 tấn CO₂ tương đương, một số mô hình đạt mức giảm tới 12 tấn CO₂ tương đương/ha. Như vậy, sản xuất lúa phát thải thấp đang tạo ra lợi ích kép, thậm chí là lợi ích nhiều mặt. Nông dân giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế; môi trường được bảo vệ; chất lượng hạt gạo được nâng lên; đồng thời sản phẩm có thêm cơ hội tiếp cận các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn xanh.

- Như vậy, lúa phát thải thấp không chỉ là câu chuyện môi trường mà còn là câu chuyện thị trường, thưa ông?

Ông Lê Thanh Tùng: Đúng vậy. Trước đây, khi nói đến giảm phát thải, nhiều người thường nghĩ đó là trách nhiệm môi trường hoặc nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay câu chuyện đã khác. Các thị trường nhập khẩu lớn ngày càng quan tâm đến phương thức sản xuất. Họ không chỉ mua gạo mà còn quan tâm gạo đó được sản xuất như thế nào, có thân thiện với môi trường hay không, có đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững hay không. Điều đó có nghĩa là sản xuất xanh đang dần trở thành một yếu tố tạo nên giá trị thương mại của sản phẩm.

Nếu chúng ta tổ chức sản xuất tốt, chứng minh được quá trình giảm phát thải, truy xuất được nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế thì hạt gạo Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn trên thị trường thế giới.

- Theo ông, đâu là yếu tố quyết định để sản xuất lúa phát thải thấp mang lại hiệu quả bền vững?

Ông Lê Thanh Tùng: Yếu tố quan trọng nhất là tổ chức lại sản xuất. Hiện nay, đất đai của Việt Nam vẫn còn khá nhỏ lẻ và manh mún. Nếu từng hộ nông dân sản xuất riêng lẻ thì rất khó áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật, khó kiểm soát chất lượng và càng khó đáp ứng các yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Sản xuất xanh đang dần trở thành một yếu tố tạo nên giá trị thương mại của sản phẩm. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Sản xuất xanh đang dần trở thành một yếu tố tạo nên giá trị thương mại của sản phẩm. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Do đó, cần tập hợp nông dân thông qua các hợp tác xã hoặc tổ hợp tác. Khi nông dân tham gia cùng một tổ chức sản xuất, chúng ta mới có thể xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng thống nhất quy trình canh tác và tạo ra sản lượng đủ lớn cho doanh nghiệp thu mua. Đây cũng là nền tảng để triển khai thành công Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần thay đổi tư duy từ sản xuất những gì mình có sang sản xuất những gì thị trường cần. Nếu thị trường yêu cầu gạo thơm, chúng ta phải tổ chức vùng nguyên liệu cho gạo thơm. Nếu thị trường yêu cầu sản phẩm giảm phát thải, có truy xuất nguồn gốc thì toàn bộ quy trình sản xuất phải được tổ chức theo yêu cầu đó. Nói cách khác, thị trường phải đóng vai trò dẫn dắt sản xuất. Khi sản xuất gắn với thị trường, nông dân không chỉ bán được lúa mà còn bán được giá trị gia tăng của sản phẩm. Đó mới là con đường nâng cao thu nhập một cách bền vững.

Cơ hội xuất khẩu sẽ thuộc về những vùng sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn

- Ông đánh giá như thế nào về vai trò của hợp tác xã trong quá trình này?

Ông Lê Thanh Tùng: Hợp tác xã là mắt xích đặc biệt quan trọng. Nhiều người cho rằng, muốn có cánh đồng lớn thì phải giảm số lượng nông dân hoặc tích tụ đất đai ở quy mô rất lớn. Theo tôi, điều đó không hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. Chúng ta nên chuyển từ tư duy xây dựng cánh đồng lớn với ít nông dân sang xây dựng cánh đồng lớn có sự tham gia của nhiều nông dân nhưng được tổ chức bài bản thông qua hợp tác xã. Khi đó, dù mỗi hộ chỉ sở hữu diện tích nhỏ nhưng cả vùng vẫn có thể vận hành như một cánh đồng lớn. Tất cả cùng sử dụng một giống lúa, cùng áp dụng một quy trình kỹ thuật, cùng thời vụ và cùng tiêu chuẩn chất lượng. Đó là điều kiện để cơ giới hóa, giảm chi phí sản xuất, kiểm soát chất lượng và xây dựng thương hiệu vùng nguyên liệu.

- Liên minh châu Âu (EU) vừa cập nhật danh mục giống gạo thơm được hưởng ưu đãi thuế quan. Ông nhìn nhận cơ hội này như thế nào đối với ngành lúa gạo Việt Nam?

Ông Lê Thanh Tùng: Tôi cho rằng đây là tín hiệu tích cực. Danh mục giống gạo thơm được hưởng ưu đãi khi xuất khẩu sang thị trường EU được xây dựng từ nhiều năm trước. Trong khi đó, ngành lúa gạo Việt Nam đã liên tục nghiên cứu, chọn tạo nhiều giống mới có chất lượng tốt hơn và phù hợp hơn với nhu cầu thị trường. Việc cập nhật danh mục sẽ tạo cơ hội để các giống mới của Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường EU. Điều quan trọng là các địa phương và doanh nghiệp phải chủ động chuẩn bị vùng nguyên liệu đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu.

Thị trường sẽ không chờ chúng ta. Nếu doanh nghiệp có đơn hàng nhưng vùng nguyên liệu không đáp ứng được tiêu chuẩn thì cơ hội sẽ bị bỏ lỡ. Ngược lại, nếu tổ chức tốt sản xuất, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân thì những thay đổi từ thị trường sẽ trở thành động lực nâng cao giá trị ngành hàng. Cần lưu ý rằng, việc bổ sung giống vào danh mục không phải là rào cản từ phía EU mà phần lớn xuất phát từ đề xuất của chính Việt Nam, căn cứ vào thực tiễn sản xuất và nhu cầu xuất khẩu. Điều đó cho thấy thị trường luôn vận động và ngành sản xuất cũng phải chủ động thích ứng.

- Xin cảm ơn ông!

Các mô hình canh tác giảm phát thải không chỉ giúp giảm lượng khí nhà kính mà còn mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp cho người sản xuất thông qua việc tiết giảm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới. Quan trọng hơn, đây đang trở thành “tấm vé” để hạt gạo Việt Nam bước vào các thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Bắc Mỹ - những nơi sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn xanh.

Nguyễn Hạnh (thực hiện)
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy